Góc nhìn và ngẫm: Tội Phạm Và Hình Phạt

Nguyễn Nga 28/09/2026

Một bài viết của tác giả Bùi Phú Châu, cử nhân luật

Nền tư pháp hình sự hiện đại ở gần 200 quốc gia trên thế giới ngày nay chịu ảnh hưởng mạnh từ bài luận Tội phạm và hình phạt (Dei delitti e delle pene) của một thanh niên người Italy – Cesare Bonesana di Beccaria – viết năm ông 26 tuổi.

YouTube Video
Xem video ngay

Hình luật châu Âu thế kỷ XVIII gắn liền với trừng phạt bởi nhà cầm quyền lúc đó tin rằng, hình phạt càng tàn khốc, hiệu quả phòng chống tội phạm càng cao. Với tư tưởng đó, tra tấn là biện pháp điều tra hợp pháp; tử hình áp dụng cho cả những tội nhỏ như trộm cắp; thẩm phán có quyền quyết định rất rộng; bản án phụ thuộc vào ý chí của người cầm quyền và địa vị của người phạm tội.

Người dân châu Âu khi đó thay vì tin tưởng rằng sẽ được pháp luật bảo vệ, lại sợ hãi pháp luật và cơ quan hành pháp. Nhưng tỷ lệ tội phạm trong xã hội vẫn tăng về cả số lượng và mức độ.

Beccaria – 26 tuổi – đã lên tiếng.

Thanh niên này đi từ khái niệm “công lý”. Công lý không phải là lợi ích vật chất hay tinh thần cho bất kỳ ai khao khát nó. Con người đã từ bỏ thế giới man rợ, đến với xã hội văn minh, tự cho đi một phần quyền tự do của mình để dựng nên nhà nước và pháp luật. Nhà nước và pháp luật, khi duy trì công lý chính là duy trì sợi dây gắn kết giữa con người trong xã hội với nhau. Khi nhà nước không còn duy trì được công lý và niềm tin của người dân vào công lý, họ đang chặt đứt những sợi dây gắn kết con người, và xã hội đó rạn nứt.

Công lý không phải là công cụ để nhà nước tùy ý trừng phạt con người, nó là nền tảng để nhà nước có được tính chính danh và để những người sống trong xã hội chấp nhận giới hạn quyền lực của mình. Beccaria từ đó đã nêu những nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự như: hình phạt phải tương xứng, mục đích của hình phạt không phải là trả thù mà là phòng ngừa, hình phạt phải được thực thi nhanh chóng, rõ ràng và công khai…

Mở rộng những nguyên tắc trên, Beccaria chỉ ra rằng nhà nước không trừng phạt một người chỉ để thỏa mãn sự phẫn nộ của xã hội, mà để người đó không tiếp tục gây hại và những người khác không muốn lặp lại hành vi ấy. Bởi vậy, một hình phạt hiệu quả không nhất thiết phải là hình phạt đau đớn nhất, nó phải tạo ra tác dụng răn đe lớn nhất.

Từ đây, Beccaria đưa ra một nhận định có lẽ là quan trọng nhất đối với tư pháp hình sự hiện đại: tính chắc chắn của hình phạt quan trọng hơn tính hà khắc của hình phạt.

Một tên trộm sẽ không thực sự sợ án tù hai mươi năm, nếu hắn tin rằng xác suất bị bắt chỉ là một phần trăm. Ngược lại, nếu biết chỉ cần phạm tội là gần như chắc chắn bị phát hiện và xử lý, thì một hình phạt vừa phải cũng đủ sức răn đe rất lớn.

Một cách dễ hiểu: tội phạm trước khi hành động sẽ không mang hình luật ra để tra cứu xem tội này đi tù bao nhiêu năm, mà chúng tính toán khả năng có thể bị bắt và đi tù hay không.

Đó là lý do Beccaria đặt certainty – tính chắc chắn cao hơn severity – tính nghiêm khắc.

Quan trọng không kém, Beccaria đặc biệt cảnh báo về một hệ thống pháp luật mà người dân không thể đọc, hiểu và dự đoán được hậu quả pháp lý từ hành vi của mình. Khi luật pháp mơ hồ, người dân phải phụ thuộc vào một nhóm nhỏ những người có quyền giải thích luật. Khi ấy, cái vốn phải là quy tắc chung của toàn xã hội lại biến thành đặc quyền của một số người.

Và đây là nơi tư tưởng của Beccaria đặt ra một vấn đề lớn hơn rất nhiều so với chuyện hình phạt nặng hay nhẹ: niềm tin vào pháp luật.

Một người dân có thể tuân thủ pháp luật vì sợ bị phạt. Nhưng một xã hội văn minh không thể tồn tại lâu dài nếu người dân chỉ tuân thủ pháp luật vì sợ hãi. Họ phải tin rằng pháp luật là công bằng, rằng người phạm tội sẽ bị xử lý, rằng người vô tội sẽ được bảo vệ, rằng người giàu và người nghèo, người có quyền lực và người không có quyền lực đều đứng trước cùng một quy tắc.

Tư tưởng của Beccaria nhanh chóng vượt khỏi phạm vi một bài luận thế kỷ XVIII, trở thành động lực quan trọng cho các cuộc cải cách tư pháp hình sự ở châu Âu và Mỹ.

Gần đây ở Việt Nam, nhiều vụ án trở thành mối quan tâm chung của xã hội bởi tính chất nghiêm trọng hay hi hữu, mức độ tác động lớn, hoặc có sự dính líu của những nhân vật quyền lực… Người dân muốn biết điều gì đã xảy ra, muốn biết pháp luật có được thực thi hay không và muốn biết rằng sự thật cuối cùng sẽ không phụ thuộc vào việc người liên quan là ai.

Đó không phải là một đòi hỏi nguy hiểm đối với pháp luật. Ngược lại, nó cho thấy pháp luật vẫn còn được kỳ vọng. Một xã hội thực sự mất niềm tin vào pháp luật sẽ không còn đòi hỏi công lý. Người ta chọn im lặng, thờ ơ, tự giải quyết bằng quan hệ, bằng tiền bạc hoặc bằng bạo lực…

Beccaria, từ hơn hai thế kỷ trước, đã nhìn thấy vấn đề tương tự. Nền tư pháp không thể được xây dựng chỉ bằng hình phạt thật nặng. Điều khiến pháp luật có sức mạnh là người dân biết luật, hiểu luật và tin rằng luật sẽ được áp dụng một cách chắc chắn, công bằng và không phụ thuộc vào địa vị của người đứng trước nó.

Nếu mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý theo cùng một nguyên tắc, thì pháp luật đang làm được điều lớn hơn việc trừng phạt một cá nhân: nó đang chứng minh rằng mọi người trong xã hội thực sự thuộc về cùng một trật tự.

Còn nếu người dân phải đoán xem một vụ việc sẽ được xử lý thế nào dựa trên tên tuổi, quốc tịch, địa vị, quan hệ hay sức ép dư luận, thì thứ bị tổn thương không chỉ là một vụ án. Thứ bị tổn thương chính là niềm tin vào sợi dây đang giữ xã hội lại với nhau.

Nguồn: Vnexpress

YouTube Video
Xem video ngay
0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận